Chuyển tới nội dung chính

Bản đồ và vùng đất

Bản đồ có 18 vùng. Mỗi vùng có chủ (hoặc chưa ai giữ), địa hình, dân số, lòng dân, quân đồn trú và các công trình.

Ai giữ vùng​

Màu / nhãnNghĩa là
Vàng – Đất taVùng của nước ta: thu thuế, xây dựng, chiêu quân được.
Màu của một phePhương Bắc, Chăm Pa, Chân Lạp, Xiêm, Ai Lao, Phương Tây, hoặc các phe người Việt trong thời nội chiến (Nhà Mạc, Đàng Trong, Tây Sơn, Nguyễn Ánh).
Không ai giữĐất của hào trưởng địa phương, chưa thuộc nước nào.
Bị đô hộĐất quê hương đang trong tay ngoại bang.

Các phe láng giềng có thái độ với ta (thân thiện hay thù địch) và sức mạnh lên xuống theo lịch sử. Phe nào mạnh hơn ta, ghét ta, hoặc vừa mất đất vào tay ta (trong 60 năm gần đây) thì dễ xuất quân đánh vào. Sức mạnh của ta trong mắt láng giềng tính 60% từ Quân lực, 40% từ Quân số.

Địa hình​

Địa hình quyết định cách đánh nào mạnh (xem Trận đánh) và vùng đông dân tới đâu.

Địa hìnhMạnh nhất với
Đồng bằngThần tốc, Dã chiến
Núi rừngMai phục, Du kích, Vườn không nhà trống, Cố thủ
Sông nướcThủy chiến
Ven biểnThủy chiến
Hải đảoThủy chiến

Các vùng và năm "theo sử" về với nước ta​

"Năm về ta" là năm mà theo chính sử, vùng đất đó trở thành đất Việt. Giữ một vùng trước năm đó (hoặc một vùng chưa bao giờ là đất Việt) được tính là vượt ra ngoài bờ cõi sử cũ.

VùngĐịa hìnhNăm về ta theo sử
Sông Hồng (kinh đô)Sông nước700 TCN
Việt BắcNúi rừng700 TCN
Thanh – NghệĐồng bằng257 TCN
Tây BắcNúi rừng1067
Thuận HóaVen biển1306
Quảng NamVen biển1471
Nam Trung BộVen biển1653
Gia ĐịnhSông nước1698
Tây Nam BộSông nước1757
Hoàng SaHải đảo1816
Trường SaHải đảo1816
Tây NguyênNúi rừng1830
Chân LạpĐồng bằng(ngoài bờ cõi)
Tây Chân LạpĐồng bằng(ngoài bờ cõi)
Biên XiêmĐồng bằng(ngoài bờ cõi)
Ai LaoNúi rừng(ngoài bờ cõi)
Vân NamNúi rừng(ngoài bờ cõi)
Lưỡng QuảngNúi rừng(ngoài bờ cõi)
Mở cõi sớm làm lệch sử

Mỗi năm, mỗi vùng ta giữ vượt ra ngoài bờ cõi sử cũ (trừ ba vùng lúc khởi đầu) cộng 0,3 vào độ lệch sử. Xem Sự kiện lịch sử và độ lệch sử.

Tên vùng theo từng thời​

Tên trên bản đồ đổi theo năm, đúng với tên gọi của thời đó. Ví dụ:

  • Sông Hồng: Giao Chỉ (111 TCN) → Đại La (866) → Thăng Long (1010) → Đông Đô (1397) → Đông Quan (1408) → Đông Kinh (1430) → Bắc Thành (1802) → Hà Nội (1831) → Bắc Kỳ (1884) → Sông Hồng (1945).
  • Thanh – Nghệ: Cửu Chân (111 TCN) → Ái – Hoan (679) → Thanh – Nghệ (1242).
  • Thuận Hóa: Nhật Nam (111 TCN) → Lâm Ấp (347) → Chiêm Thành (877) → Thuận Hóa (1307) → Phú Xuân (1687) → Bình Trị Thiên (1945).
  • Gia Định: Phù Nam (năm 1) → Thủy Chân Lạp (707) → Gia Định (1698) → Nam Kỳ (1862) → Đông Nam Bộ (1945).
  • Ai Lao: Lạn Xạng (1353) → Ai Lao (1707) → Lào (1945).

Tên chỉ để hiển thị, không ảnh hưởng luật chơi.

Thời kỳ lịch sử​

Dòng thời gian tô màu theo các thời kỳ: Hồng Bàng – Văn Lang · Âu Lạc – Nam Việt (từ 258 TCN) · Bắc thuộc (111 TCN – 938) · Ngô – Đinh – Lê – Lý (938) · Nhà Trần – Hồ (1225) · Thuộc Minh (1407) · Lê sơ (1428) · Nam – Bắc triều, Trịnh – Nguyễn (1527) · Tây Sơn – Nguyễn (1789) · Thời Pháp thuộc (1858) · Việt Nam hiện đại (1945).

Hoàng Sa và Trường Sa​

Hai quần đảo là vùng được bảo vệ:

  • Không đạo quân nào tới được, không phe nào nhắm đánh.
  • Không có dân, không xây dựng, không chiêu quân.
  • Từ năm 1816, dù lịch sử đi theo nhánh nào, Hoàng Sa và Trường Sa luôn thuộc về nước ta.

Dân binh địa phương​

Một vùng không ai giữ, hoặc thuộc một phe đang ngủ yên (chưa xuất hiện hay đã suy tàn trong lịch sử), không bỏ ngỏ: khi có quân kéo vào, ít nhất 10% dân của vùng đứng lên làm dân binh giữ đất. Vì vậy một đạo quân nhỏ đầu game không thể đi băng qua nửa bản đồ.

mẹo

Muốn chiếm một vùng đông dân không ai giữ, hãy mang theo quân đông hơn hẳn 10% dân số của vùng đó. Trong bảng trận, quân giữ đất có thể hiện là "dân binh địa phương".

Nếu một vùng không ai giữ và không còn quân đồn trú, đạo quân bước vào là chiếm luôn, không cần đánh.

Mất kinh đô, mất nước​

  • Sông Hồng là kinh đô. Nếu ta không còn giữ vùng quê hương nào (trừ hai quần đảo), nước ta rơi vào vòng đô hộ và chuyển sang kháng chiến.
  • Khi đang bị đô hộ, giành lại được Sông Hồng là khôi phục độc lập.
  • Sau Cách mạng Tháng Tám 1945 (nếu đi theo sử), miền Bắc không thể bị chiếm; sau năm 1975, cả nước.