Quân đội
Quân của ta có hai loại:
| Loại | Ở đâu | Đặc điểm |
|---|---|---|
| Quân đồn trú | Gắn với từng vùng | Tự bổ sung theo dân số, không di chuyển được, lương rẻ. |
| Đạo quân (quân cờ) | Đứng trên bản đồ | Do bạn chiêu, hành quân và đánh trận được, lương đắt hơn và hao dần. |
Quân số trên thanh trên cùng là tổng cả hai.
Quân đồn trú
- Mỗi năm, quân đồn trú của một vùng tự bổ sung 5% khoảng cách tới mức đích: 1,25% dân số của vùng.
- Mức đích nhân thêm theo quốc sách: Luyện binh ×1,5, Hòa hiếu ×0,8; và mỗi cấp thành lũy +10%.
- Lương: 0,01 vạn quan mỗi 1.000 quân mỗi năm.
- Khi vùng bị đánh, quân đồn trú chiến đấu với sĩ khí theo lòng dân của vùng: 40 + 0,4 × lòng dân (từ 40 tới 80).
Chiêu quân
Bấm vào vùng vàng → mục Chiêu quân → +1.000, +5.000…
| Quy tắc | Mức |
|---|---|
| Giá | 1 vạn quan mỗi 1.000 quân |
| Lấy từ dân | mỗi người lính là một người dân của vùng |
| Ít nhất mỗi lần | 100 quân |
| Nhiều nhất mỗi năm, mỗi vùng | 5% dân số của vùng (tính cả những lần đã chiêu trong năm) |
| Sĩ khí lính mới | 60 |
Năm sau, lính mới đứng thành một đạo quân tại vùng đó. Nếu ở đó đã có một đạo quân của ta đang đứng yên, lính mới nhập luôn vào đạo quân ấy (sĩ khí tính trung bình).
Lương bổng và hao hụt
Mỗi năm, mỗi đạo quân:
| Đóng trên đất ta | Ở ngoài đất ta | |
|---|---|---|
| Lương | 0,02 vạn quan / 1.000 quân | 0,02 vạn quan / 1.000 quân |
| Hao quân | 1% | 3% |
| Sĩ khí | +5 mỗi năm (tới tối đa 80) | −2 mỗi năm |
| Ăn | 1,5 suất / người | 2 suất / người |
Khi ngân khố âm, mọi đạo quân hao thêm 5% (tức 6% trên đất ta, 8% ở ngoài) và mất 10 sĩ khí mỗi năm.
Đạo quân nào còn dưới 100 người thì tan.
Đạo quân không phải đồn trú: chúng hao 1–3% mỗi năm dù không đánh. Hết việc thì gộp chúng lại, hoặc để chúng đứng trên đất ta cho đỡ hao. Đừng chiêu quân quá sớm khi chưa cần.
Hành quân
- Bấm quân cờ để chọn đạo quân.
- Bấm Di chuyển / Tấn công, rồi bấm vùng đích.
- Quân đi theo đường ngắn nhất, mỗi năm một vùng, tới nơi thì dừng.
- Bấm lại vào chính vùng quân đang đứng để dừng lệnh hành quân.
- Một đạo quân đang giao chiến tại chỗ sẽ không đi tiếp cho tới khi trận ở đó ngã ngũ.
- Không tới được Hoàng Sa, Trường Sa.
- Bước vào vùng có người giữ (hay có dân binh địa phương) là trận đánh. Bước vào vùng không ai giữ và không có quân là chiếm luôn.
Gộp và tách quân
Trong bảng của một đạo quân, mục Gộp / chia quân:
- Gộp: hai đạo quân của ta cùng vùng và cùng đứng yên (không có lệnh hành quân) gộp thành một. Quân cộng lại, sĩ khí tính trung bình theo quân số, đạo quân được gộp vào giữ tướng của nó (chưa có tướng thì nhận tướng của đạo kia). Nút Gộp cả N đạo gộp tất cả đạo quân đứng yên trong vùng.
- Tách: Tách N quân thành đạo quân mới cùng vùng, cùng sĩ khí, chưa có tướng. Cả hai phần phải còn ít nhất 100 quân.
Muốn gộp, đưa đạo quân kia về cùng vùng rồi để cả hai đứng yên. Đạo quân đang có lệnh hành quân không gộp, không tách được.
Cử tướng
Trong bảng nhân vật (Nhân tài trong triều), chọn một người rồi Cử tướng cho một đạo quân.
- Chỉ người của ta, còn sống, không phải nhà vua. Một người chỉ giữ một chức: cử làm tướng thì thôi trấn thủ, và ngược lại.
- Võ của tướng cộng thẳng vào sức đánh: tướng Võ 80 làm đạo quân mạnh thêm 80%.
- Sở trường (một cách đánh, hoặc một loại địa hình): đánh đúng sở trường thì mạnh thêm 15%.
- Mỗi trận, tướng có thể tử trận: từ 1% (khi thắng) tới 6% (khi thua nặng).
Sau mỗi trận
| Bên đi đánh thắng | Bên đi đánh hòa hoặc thua | |
|---|---|---|
| Sĩ khí | Bên đánh +10, bên giữ −15 | Bên đánh −15, bên giữ +10 |
| Đất | Bên đánh chiếm vùng (trừ khi đánh Du kích); đạo quân bên giữ lui về vùng kề bên của phe mình, không có chỗ lui là tan | Bên đánh lui về vùng kề bên của phe mình; không có chỗ lui là tan |
Vùng vừa bị chiếm mất toàn bộ quân đồn trú, lòng dân −20, người trấn thủ cũ bị cách chức.
Quân phản loạn
Chiếm được nhiều đất là giỏi, nhưng đất rộng thì khó giữ. Khi ta giữ từ 2 vùng trở lên mà theo sử năm đó chưa thuộc về ta ("đất ngoài sử"), thỉnh thoảng sẽ có quân phản loạn nổi lên.
| Khi nào | Mỗi năm có cơ hội = 3% × (số vùng ngoài sử − 1), tối đa 25%/năm. Hai lần nổi lên cách nhau ít nhất 8 năm; cùng lúc tối đa 2 đạo đang ẩn. Chỉ khi ta độc lập, trước năm 1945, không có ở thử thách hằng ngày. |
| Ở đâu | Một vùng của ta, không bao giờ là kinh đô hay hải đảo. Dễ nổ ở vùng ngoài sử (×3), xa kinh đô, và vùng lòng dân dưới 50 (×2). |
| Lúc đầu | Khoảng 1,5% dân vùng đó (1.000–4.000 quân). |
| Ẩn mình | 4 năm, mỗi năm đông thêm 15% (tối đa gấp 3 lúc đầu). Quân đồn trú không tự đi dẹp; đưa một đạo quân tới vùng đó là đánh ngay. |
| Ra mặt | Hết 4 năm mà chưa bị dẹp: chúng đánh quân đồn trú. Thắng thì vùng thành đất phản loạn. |
| Lan ra | Đất phản loạn mỗi năm thêm 5% quân; cứ 6 năm (khi có từ 1.500 quân) lại đem 60% quân đánh sang vùng kề yếu nhất của ta. |
Luôn giữ một đạo quân cơ động gần những vùng xa kinh đô. Khi trò chơi gợi ý "Có quân phản loạn đang ẩn ở…", đưa quân tới dẹp ngay — 4 năm nữa chúng sẽ đông gấp đôi.
Mất vùng có trong sử vào tay phản loạn cũng bị tính lệch sử như mất đất thường. Đánh lại đất phản loạn như đánh mọi vùng địch.
Khi mất nước
Khi lịch sử đưa nước ta vào thời bị đô hộ, các đạo quân cũ giải tán về làng và trở thành lực lượng kháng chiến bí mật: cứ 2.000 quân thành 1 điểm kháng chiến (tối đa 20 điểm). Xem Kháng chiến khi bị đô hộ.