Lê Quý Đôn, nhà bác học thế kỷ XVIII
1726
Một trong những học giả uyên bác nhất thời phong kiến Việt Nam. Ông đỗ Bảng nhãn, từng đi sứ nhà Thanh và để lại hàng chục bộ sách về sử, địa lý, văn học và khoa học.
Thần đồng đất Duyên Hà
Lê Quý Đôn (1726–1784), tên lúc nhỏ là Lê Danh Phương, hiệu Quế Đường. Ông quê ở làng Duyên Hà, trấn Sơn Nam (nay thuộc Thái Bình). Cha ông là tiến sĩ Lê Trọng Thứ. Từ nhỏ ông đã nổi tiếng thông minh, đọc sách rất nhanh và nhớ lâu.
Năm 1743, ông đỗ Giải nguyên (đầu khoa thi Hương). Năm 1752, ông đỗ Hội nguyên rồi đỗ Bảng nhãn ở kỳ thi Đình; khoa ấy không lấy Trạng nguyên, nên ông là người đỗ cao nhất.
Làm quan và đi sứ
Ông làm quan dưới triều Lê – Trịnh, qua nhiều chức về văn hóa, giáo dục và hành chính. Năm 1760–1762, ông được cử làm phó sứ sang nhà Thanh. Ở Bắc Kinh, ông trao đổi với các học giả Trung Hoa và sứ thần Triều Tiên, được họ khâm phục về học vấn.
Về sau ông được cử vào làm quan ở Thuận Hóa, ghi chép tỉ mỉ về đất đai, dân cư, sản vật và việc cai trị ở đó.
Kho sách để lại
Lê Quý Đôn viết về rất nhiều lĩnh vực. Có thể kể:
Đại Việt thông sử: sử nhà Lê sơ, viết theo lối kỷ truyện.
Phủ biên tạp lục: ghi chép về hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam.
Kiến văn tiểu lục: những điều mắt thấy tai nghe về nhiều mặt đời sống.
Vân đài loại ngữ: một bộ sách gần như bách khoa, bàn về trời đất, sách vở, phong tục, sản vật.
Toàn Việt thi lục: tuyển tập thơ văn người Việt các đời.
Ông chủ trương học phải đi đôi với thực tế: ghi chép tận nơi, đối chiếu nhiều nguồn, ghi rõ nguồn gốc tư liệu.
Ghi nhớ
Ông mất năm 1784. Nhiều thế hệ sau coi ông là nhà bác học tiêu biểu nhất của nước Việt thời phong kiến. Nhiều trường học, trong đó có Học viện Kỹ thuật Quân sự (còn gọi là Đại học Lê Quý Đôn), mang tên ông.
Nguồn
Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Nhân vật chí và Văn tịch chí.
Lê Quý Đôn, *Phủ biên tạp lục*.
Duyệt ngày