Từ Hoa Lư đến Thăng Long (1010)
1010
Năm 1010, vua Lý Thái Tổ dời kinh đô từ Hoa Lư ra đất Đại La. Thiên đô chiếu của ông giải thích vì sao một kinh đô cần đất rộng, giao thông thuận lợi, chứ không chỉ núi non hiểm trở.

Hoa Lư
Từ năm 968, nhà Đinh rồi nhà Tiền Lê đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình). Kinh đô này được núi đá vôi bao bọc, rất dễ phòng thủ, hợp với thời kỳ đất nước vừa qua loạn lạc cuối thời Ngô và thường xuyên phải đối phó ngoại xâm. Nhưng Hoa Lư chật hẹp, đi lại khó khăn, không đủ chỗ cho một nhà nước đang lớn mạnh.
Nhà Lý ra đời
Cuối năm 1009, vua Lê Long Đĩnh mất. Triều thần, với sự ủng hộ của các nhà sư như Vạn Hạnh, tôn viên Điện tiền chỉ huy sứ họ Lý làm vua, tức Lý Thái Tổ, mở đầu nhà Lý. Ông quê ở Cổ Pháp (Bắc Ninh) và lớn lên ở chùa. Ông có ảnh hưởng rộng ở vùng châu thổ sông Hồng.
Thiên đô chiếu
Mùa xuân năm 1010, nhà vua tự viết Thiên đô chiếu, bài chiếu về việc dời kinh đô. Bài chiếu nhắc rằng nhà Thương, nhà Chu bên Trung Quốc đều nhiều lần dời đô, không phải theo ý riêng mà để mưu nghiệp lớn và tính kế lâu dài cho con cháu. Theo bài chiếu, Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương (Cao Biền), "ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi", ở chính giữa bốn phương, tiện thế dựa núi nhìn sông; đất rộng mà bằng, cao mà thoáng, dân không khổ vì ngập lụt, muôn vật phong phú tốt tươi.
Tháng 7 năm ấy, theo Đại Việt sử ký toàn thư, khi thuyền vua tới dưới chân Đại La, có rồng vàng hiện lên, nên vua đặt tên mới cho kinh thành là Thăng Long, nghĩa là "rồng bay lên".
Vì sao đáng nhớ?
Từ năm 1010, vùng đất này trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của đất nước qua nhiều triều đại. Năm 2010, Hà Nội tổ chức kỷ niệm 1000 năm Thăng Long. Thiên đô chiếu cũng là một trong những văn bản cổ nhất của người Việt còn giữ được.
Nguồn
Lý Thái Tổ, Thiên đô chiếu (1010), chép trong Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, quyển 2. Bản trên Wikisource
Duyệt ngày