Hai Bà Trưng khởi nghĩa (năm 40)
40
Hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị, con gái một lạc tướng ở Mê Linh, đứng lên chống ách cai trị của nhà Đông Hán. Đây là cuộc khởi nghĩa lớn đầu tiên được sử sách ghi lại sau khi đất Âu Lạc cũ bị nhập vào nhà Hán.

Bối cảnh
Từ năm 111 TCN, đất Âu Lạc cũ bị nhà Hán chia thành các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Lúc đầu nhà Hán vẫn để lạc tướng người Việt cai quản làng xã theo lệ cũ. Sang thời Đông Hán, quan lại phương Bắc can thiệp sâu hơn vào đời sống, thu cống nạp nặng và tìm cách áp đặt lễ tục Hán.
Thái thú quận Giao Chỉ khi ấy là Tô Định, bị sử cũ chép là người tham lam, tàn bạo. Theo Hậu Hán thư, sự hà khắc của ông là một nguyên nhân trực tiếp khiến dân Giao Chỉ nổi dậy.
Hai Bà là ai?
Hậu Hán thư chép Trưng Trắc là con gái lạc tướng huyện Mê Linh, lấy chồng là Thi Sách, người huyện Chu Diên; sách tả bà là người "rất hùng dũng". Em gái bà là Trưng Nhị. Sử Việt đời sau (Đại Việt sử ký toàn thư) kể thêm rằng Thi Sách bị Tô Định giết, và Trưng Trắc khởi binh vừa để trả thù nhà vừa để đền nợ nước. Chi tiết này không có trong sử Trung Quốc, nên các nhà nghiên cứu vẫn bàn luận về nó.
Mê Linh nằm ở vùng đất nay thuộc Hà Nội và Vĩnh Phúc. Theo truyền thống, Hai Bà làm lễ thề khởi binh tại Hát Môn (nay thuộc huyện Phúc Thọ, Hà Nội), nơi về sau có đền thờ Hai Bà.
Năm 40
Mùa xuân năm 40, Hai Bà khởi binh. Lời kêu gọi được lạc tướng khắp Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố hưởng ứng. Hậu Hán thư chép nghĩa quân "lấy được 65 thành", còn Tô Định phải bỏ chạy về Nam Hải. Trưng Trắc được tôn làm vua, đóng đô ở Mê Linh; sử Việt gọi bà là Trưng Vương.
Lần đầu tiên sau hơn một trăm năm, đất Lạc Việt lại có một chính quyền của người Việt. Việc hai người phụ nữ dẫn dắt cả một cuộc nổi dậy cũng cho thấy vai trò của phụ nữ trong xã hội Lạc Việt thời ấy.
Ghi nhớ
Ngày nay Hai Bà được thờ ở nhiều nơi, nổi tiếng nhất là đền Hát Môn, đền Đồng Nhân (Hà Nội) và đền Hai Bà ở Mê Linh. Theo truyền thống, ngày giỗ Hai Bà là mùng 6 tháng Hai âm lịch.
Nguồn
Phạm Diệp, Hậu Hán thư, quyển 86 (Nam Man truyện).
Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ, quyển 3, kỷ Trưng Nữ Vương. Bản trên Wikisource
Duyệt ngày