Bạch Đằng năm 1288
1288
Mùa xuân năm 1288, đại quân Nguyên – Mông của Thoát Hoan, sau nhiều tháng đóng quân tại Thăng Long, rút về phía Bắc theo cả đường bộ lẫn đường thủy. Con đường thủy cũ của họ đi qua cửa sông Bạch Đằng, nơi Ngô Quyền đã từng nổi danh gần ba thế kỷ trước.
Bối cảnh
Từ cuối năm 1287, đạo quân Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy tiến vào Đại Việt lần thứ ba, cùng các tướng thủy quân như Ô Mã Nhi. Họ chiếm được kinh thành Thăng Long trong một thời gian, nhưng nhà Trần theo lối đánh lâu dài: rút khỏi các đô thành để tránh thế mạnh của giặc, để quân địch xa nguồn lương và mất sức dần.
Sang đầu năm 1288, tình thế của quân Nguyên đã khác. Thiếu lương thực, thời tiết thay đổi, và các cuộc đánh lẻ của quân Trần quanh Thăng Long khiến cuộc đóng quân kéo dài trở nên tốn kém. Thoát Hoan quyết định lui binh về nước.
Những người chỉ huy
Trần Hưng Đạo (Trần Quốc Tuấn), Quốc công tiết chế, tổng chỉ huy quân đội nhà Trần.
Trần Khánh Dư, tướng thủy quân nổi tiếng, người có công cắt đứt đường tiếp tế bằng đường biển của giặc.
Ô Mã Nhi, tướng thủy quân Nguyên, đã từng chỉ huy quân Nguyên trong cuộc chiến trước.
Thoát Hoan, con trai Hốt Tất Liệt, thống soái viễn chinh.
Dòng sông
Sông Bạch Đằng nằm ở vùng Quảng Ninh – Hải Phòng, đổ ra biển qua một cửa rộng. Nước sông lên xuống theo thủy triều rất mạnh, chênh lệch lớn giữa lúc nước đầy và nước cạn. Nhiều thế kỷ trước, Ngô Quyền đã lấy chính con sông này làm vũ khí và đánh bại quân Nam Hán năm 938, và các sử gia đời sau thường đặt hai trận cạnh nhau.
Vì vậy, khi quân Nguyên chọn đường thủy để rút lui, con sông ấy trở thành nơi hai bên cùng biết là sẽ có một cuộc quyết định.
Ý nghĩa
Chiến thắng của Đại Việt trong lần kháng chiến thứ ba chấm dứt tham vọng xâm lược Đại Việt của nhà Nguyên. Sau đó hai nước lập lại quan hệ triều cống như trước, và nhà Trần giữ được nền độc lập trong suốt thời gian còn lại của thế kỷ.
Nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, quyển 5 (đời Trần Nhân Tông). Bản trên Wikisource
Nguyên sử (phần chép các cuộc đánh An Nam), ghi lại từ phía nhà Nguyên.
Chiến tranh Nguyên Mông – Đại Việt lần 3 — Wikipedia tiếng Việt
Duyệt ngày