Phan Châu Trinh (1872–1926)
1872
Nhà yêu nước người Quảng Nam, đỗ Phó bảng năm 1901, chủ trương mở mang dân trí và cải cách xã hội bằng con đường ôn hòa. Ông mất năm 1926 tại Sài Gòn.

Xuất thân
Phan Châu Trinh sinh năm 1872 ở làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Ông được học chữ Nho từ nhỏ, và đỗ Phó bảng năm 1901. Ông ra làm quan ở Bộ Lễ tại Huế, nhưng sớm chán cảnh quan trường, và đến năm 1905 thì bỏ quan.
Con đường Duy Tân
Cùng với Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp, ông đi vào Nam, gặp gỡ các sĩ phu và tìm hiểu tình hình các nơi. Ông cho rằng muốn cứu nước thì trước hết phải đổi mới xã hội: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh (mở mang hiểu biết, nâng cao tinh thần, cải thiện đời sống của dân).
Chủ trương của ông khác với Phan Bội Châu, người chủ trương dùng bạo động và dựa vào sự giúp đỡ từ bên ngoài. Hai người là bạn của nhau, tôn trọng nhau, nhưng vẫn bất đồng trên con đường đi. Phan Châu Trinh phản đối việc dựa vào quân chủ và chủ trương lấy dân chủ làm gốc, bằng cách bỏ hủ tục, bỏ lối học khoa cử, mở trường, mở hội buôn và cắt tóc ngắn.
Phong trào chống thuế và Côn Đảo
Năm 1908, phong trào chống thuế nổ ra ở Trung Kỳ. Dù ông không trực tiếp cổ vũ bạo động, ông vẫn bị chính quyền thực dân bắt, kết án và đày ra Côn Đảo. Nhờ sự can thiệp của Hội Nhân quyền ở Pháp, ông được ân xá, và năm 1911 ông sang Pháp.
Ở Pháp và những năm cuối
Ông sống ở Paris gần mười bốn năm, làm nghề rửa ảnh để kiếm sống, và tiếp tục viết, diễn thuyết. Năm 1922, ông gửi cho vua Khải Định bức thư nổi tiếng thường gọi là «Thư thất điều», kể bảy tội của nhà vua. Năm 1925 ông về Sài Gòn, diễn thuyết về đạo đức và dân chủ, và mất ngày 24 tháng 3 năm 1926.
Tang lễ của ông thu hút hàng chục nghìn người ở Sài Gòn. Nhiều trường học, đường phố ở Việt Nam mang tên ông, và ông thường được nhắc đến như một người mở đường cho tư tưởng dân quyền ở Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Nguồn
Huỳnh Thúc Kháng, Phan Tây Hồ tiên sinh lịch sử.
Phan Châu Trinh, Đầu Pháp chính phủ thư (1906), Thư thất điều (1922).
Duyệt ngày